Trang chủ/Bài học/Bài học 3

Các khái niệm cơ bản

Cân bằng, vách ngăn, biến số và hàm trạng thái, quá trình nhiệt động lực học.

Hệ nhiệt độngVách ngănCân bằngBiến trạng tháiHàm trạng tháiQuá trình tựa tĩnhNguồn nhiệtTính quảng tínhTính cường tính

Nhiệt động lực học mô tả các hệ vĩ mô bằng một số ít đại lượng đo được, như nhiệt độ, áp suất và thể tích. Trước khi trình bày hai nguyên lý của lý thuyết, ta cần làm rõ thế nào là một hệ nhiệt động, một trạng thái cân bằng, một biến trạng thái, một hàm trạng thái và một quá trình nhiệt động.

Bài này vì thế không chỉ giới thiệu từ vựng cơ bản của nhiệt động lực học mà còn nêu một số giả thiết cấu trúc làm nền tảng cho lý thuyết: sự tồn tại của các trạng thái vĩ mô được đặc trưng bởi một số ít biến, cùng cấu trúc của không gian các trạng thái đó. Những khái niệm và giả thiết này tạo nên khuôn khổ để phát biểu hai nguyên lý.

1. Hệ nhiệt động

Trong nhiệt động lực học, ta luôn bắt đầu bằng việc chọn hệ cần nghiên cứu.

Định nghĩa 1 (Hệ nhiệt động)
Một hệ nhiệt động là một phần của thế giới vật lý, được giới hạn bởi một mặt có thật hoặc tưởng tượng tách nó khỏi môi trường xung quanh; mặt này được gọi là biên của hệ. Mọi thứ không thuộc hệ hợp thành môi trường của nó.

Chẳng hạn, ta có thể chọn khí chứa trong một bình làm hệ; khi đó biên trùng với thành bình. Tuy nhiên, biên không nhất thiết là một vách vật chất. Khi nghiên cứu dòng chảy qua tuabin hoặc đường ống, người ta thường chọn một vùng cố định trong không gian, gọi là thể tích kiểm soát, được giới hạn bởi một mặt thuần túy hình học mà vật chất có thể đi qua.

Việc chọn hệ cũng có phần tùy ý. Cùng một hiện tượng thường có thể được mô tả bằng những lựa chọn hệ khác nhau. Tuy nhiên, trong thực tế, các điều kiện đặt tại biên của bài toán thường dẫn tới một lựa chọn cụ thể. Chúng thường được cho trong đề bài hoặc được gợi ra bởi chính tình huống vật lý. Trong mọi trường hợp, phải chỉ rõ hệ đã chọn trước khi lập các phương trình cân bằng vật lý.

Sau khi xác định hệ, câu hỏi đầu tiên là nó có thể trao đổi gì với môi trường. Hai loại trao đổi chính trong giáo trình này là trao đổi vật chất và trao đổi năng lượng, đặc biệt dưới dạng nhiệt hoặc công. Từ đó ta phân biệt ba loại hệ.

Định nghĩa 2 (Hệ kín, hệ hở và hệ cô lập)
Một hệ là hở nếu có thể trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường. Một hệ là kín nếu không trao đổi vật chất nhưng có thể trao đổi năng lượng với môi trường. Một hệ là cô lập nếu không trao đổi cả vật chất lẫn năng lượng với môi trường.

Loại thứ tư về mặt lôgic—trao đổi vật chất nhưng không trao đổi năng lượng—không có ý nghĩa vật lý: vật chất đi qua biên tất yếu mang theo năng lượng.

Ví dụ, khí bị nhốt trong một xi lanh có pittông là một hệ kín: không phân tử nào đi qua thành, nhưng khí có thể nhận nhiệt hoặc thực hiện công bằng cách đẩy pittông.

Ngược lại, một nồi nước sôi không đậy nắp là hệ hở, vì hơi nước thoát ra và nước có thể nhận nhiệt từ bếp.

Một hệ cô lập hoàn hảo luôn là một lý tưởng hóa. Bình giữ nhiệt đóng kín là một xấp xỉ tốt trong một khoảng thời gian. Trên thực tế, không có hệ nào cô lập hoàn toàn.

2. Biên, vách và các ràng buộc

Các tính chất của biên quyết định những trao đổi nào có thể xảy ra giữa hệ và môi trường. Từ cùng một trạng thái ban đầu, những điều kiện biên khác nhau có thể dẫn tới các diễn biến nhiệt động hoàn toàn khác nhau.

Nói cách khác, biết hệ thôi chưa đủ: ta còn phải biết các ràng buộc đặt lên biên của nó. Khi biên là một vách vật chất, người ta thường phân biệt các trường hợp sau.

  • Vách có thể cứng hoặc di động. Vách cứng cố định hình học của hệ. Trái lại, vách di động có thể chuyển động dưới tác dụng của chênh lệch lực áp suất ở hai phía.
  • Vách được gọi là dẫn nhiệt nếu cho phép trao đổi nhiệt và đoạn nhiệt nếu ngăn cản trao đổi này.
  • Vách có thể thấm hoặc không thấm vật chất. Nó cũng có thể bán thấm, nghĩa là cho một số cấu tử hóa học đi qua nhưng chặn các cấu tử khác.

Hình 1 tóm tắt các trao đổi có thể có với môi trường, ba loại hệ và các ràng buộc chính do biên áp đặt.

Hệ nhiệt động, biên, các trao đổi có thể có và những ràng buộc thường gặp.
Hình 1. Hệ nhiệt động, biên, các trao đổi có thể có và những ràng buộc thường gặp.

Những tính chất này là các ràng buộc quyết định những quá trình nhiệt động nào có thể xảy ra. Chẳng hạn, xét hai khối khí ngăn cách bởi một vách cứng. Áp suất của chúng có thể khác nhau mà không có gì xảy ra, vì vách ngăn mọi chuyển động. Nếu thay vách bằng một pittông di động, chênh lệch áp suất sẽ làm pittông chuyển động.

Tương tự, hai vật ngăn cách bởi vách đoạn nhiệt có thể duy trì nhiệt độ khác nhau. Nhưng nếu vách trở thành dẫn nhiệt, nhiệt sẽ truyền cho tới khi thiết lập một cân bằng mới.

Cuối cùng, hai dung dịch chứa cùng một cấu tử hóa học ở nồng độ khác nhau có thể giữ nguyên chênh lệch đó khi được ngăn bởi một màng không thấm cấu tử ấy. Nếu màng trở nên thấm, các hạt có thể đi qua biên và khuếch tán từ vùng này sang vùng kia cho tới khi đạt cân bằng mới. Trong trường hợp đơn giản nhất, khi hai môi trường tương đương về mọi mặt khác, cân bằng ứng với nồng độ bằng nhau ở hai phía.

Nhận xét 1 (Màng bán thấm)
Trong ví dụ trước, ta nói một màng có thể “thấm đối với một cấu tử”. Thật vậy, tính thấm phụ thuộc vào cấu tử đang xét. Một vách vật chất thông thường, chẳng hạn bằng kim loại, gần như không thấm vật chất. Tuy nhiên, trong cơ thể sống có những màng bán thấm, cho phép một số phân tử hoặc ion đi qua nhưng chặn những loại khác nhờ các cơ chế phức tạp ở nhiều mức độ. Các hệ sinh học liên tục khai thác tính thấm chọn lọc này. Đặc biệt, nó giúp duy trì chênh lệch nồng độ giữa trong và ngoài tế bào, điều thiết yếu cho hoạt động của tế bào. Ví dụ, gradient ion qua màng tế bào giữ vai trò trung tâm trong truyền tín hiệu thần kinh. Trong kỹ thuật, người ta cũng chế tạo màng bán thấm. Chẳng hạn, chúng được dùng để khử muối nước biển bằng thẩm thấu ngược.

Ta thường muốn áp đặt một số điều kiện bên ngoài lên hệ mà không cần mô tả chi tiết thiết bị tạo ra chúng. Ví dụ, ta có thể muốn nghiên cứu một hệ luôn được giữ ở nhiệt độ không đổi. Trong thực tế, có thể đặt nó trong lò, tủ lạnh, bể nước, v.v.

Về hình thức, điều này tương đương với việc áp đặt một số tính chất lên môi trường mà hệ tương tác. Một bể chứa là một hệ đủ lớn để một số tham số của nó có thể được xem là không đổi bất chấp trao đổi với hệ đang xét.

Một bể nhiệt, hay nguồn nhiệt, là bể chứa có nhiệt độ hầu như không đổi khi nhận hoặc nhường một lượng nhiệt hợp lý. Chẳng hạn, nếu nhúng một vật nhỏ vào một hồ lớn, ta có thể coi hồ là nguồn nhiệt với độ chính xác rất cao.

Tương tự, trong nhiều tình huống, khí quyển có thể được xem là một bể cơ học áp đặt áp suất gần như không đổi. Đôi khi nó được gọi là bể áp suất. Xấp xỉ này sẽ thường xuất hiện trong các bài tập.

Sau này ta cũng sẽ gặp các bể hạt có khả năng áp đặt một thế hóa học.

3. Cân bằng nhiệt động

Khái niệm cân bằng nằm ở trung tâm của nhiệt động lực học cổ điển. Lý thuyết sắp xây dựng trước hết mô tả các trạng thái cân bằng và những quá trình nối các trạng thái ấy.

Khái niệm này vốn có nguồn gốc hiện tượng luận. Kinh nghiệm cho thấy một hệ chịu các điều kiện bên ngoài cố định thường tiến tới, sau một thời gian, một trạng thái không còn biểu hiện diễn biến vĩ mô quan sát được.

Ví dụ, xét một khối kim loại hình lập phương để lâu trong phòng. Nhiệt độ của nó không còn thay đổi ở mức quan sát vĩ mô. Bây giờ đặt nó vào một lò nóng. Điều kiện áp đặt tại biên đã đổi và hệ lại tiến triển: nhiệt độ tăng dần. Sau một thời gian, diễn biến này lại dừng và hệ đạt một trạng thái ổn định mới.

Ta nói hệ đã hồi phục về một trạng thái cân bằng mới. Thời gian cần để đạt trạng thái ấy, gọi là thời gian hồi phục, phụ thuộc vào hệ và các quá trình vật lý liên quan; nó có thể rất ngắn hoặc rất dài.

Nhận xét này dẫn tới định nghĩa sau.

Định nghĩa 3 (Cân bằng nhiệt động)
Một hệ ở trong trạng thái cân bằng nhiệt động, tương đối với các ràng buộc đặt lên nó, khi các đại lượng vĩ mô như nhiệt độ, thể tích và thành phần không còn tự phát biến đổi theo thời gian, đồng thời không còn dòng vĩ mô nào tương thích với các ràng buộc ấy.

Vì thế, cân bằng nhiệt động không có nghĩa là mọi chênh lệch nhiệt độ, áp suất hoặc nồng độ nhất thiết đã biến mất. Nó có nghĩa là không thể có diễn biến vĩ mô tự phát nào dưới các ràng buộc áp đặt lên hệ. Ta đã gặp một ví dụ: hai thể tích khí ở áp suất khác nhau, ngăn bởi vách cứng, có thể tạo thành trạng thái cân bằng dưới ràng buộc đó.

Do đó, một trạng thái cân bằng luôn được xác định tương đối với các ràng buộc áp đặt lên hệ. Nếu bỏ một ràng buộc, trạng thái có thể lập tức không còn là cân bằng đối với bài toán nhiệt động mới. Nguyên lý thứ hai sau này sẽ phát biểu tổng quát xu hướng tiến tới cân bằng và cho phép đặc trưng các trạng thái cân bằng.

Cuối cùng, phải phân biệt trạng thái cân bằng với trạng thái dừng. Trong trạng thái dừng, các đại lượng vĩ mô không còn phụ thuộc thời gian nhưng những dòng thường trực vẫn có thể tồn tại.

Ví dụ cổ điển là một thanh kim loại có hai đầu được giữ ở nhiệt độ khác nhau. Sau một thời gian, phân bố nhiệt độ trong thanh không còn phụ thuộc thời gian, nhưng một dòng nhiệt liên tục vẫn đi từ đầu nóng sang đầu lạnh. Hệ không ở cân bằng; đó là lý do định nghĩa cân bằng còn đòi hỏi không có dòng vĩ mô. Dòng nhiệt và dòng vật chất là những ví dụ về dòng vĩ mô.

Nhận xét 2 (Dao động quanh cân bằng)
Một trạng thái cân bằng vĩ mô không bất động ở cấp vi mô. Các phân tử khí tiếp tục chuyển động và va chạm. Vì vậy, phép đo đủ tinh các đại lượng vĩ mô sẽ phát hiện những dao động nhỏ quanh giá trị cân bằng.

Đối với các hệ vĩ mô thông thường chứa số lượng cấu tử rất lớn, các dao động tương đối này nhìn chung rất nhỏ. Ta sẽ bỏ qua chúng trong toàn bộ phần đầu của sách.

Ta sẽ trở lại nguồn gốc và tầm quan trọng của chúng trong phần vật lý thống kê.

4. Trạng thái vĩ mô và biến trạng thái

Câu hỏi tự nhiên tiếp theo là làm thế nào mô tả định lượng các trạng thái cân bằng.

4.1. Biến trạng thái

Một hệ vĩ mô chứa vô số bậc tự do vi mô. Chẳng hạn, một lít khí chứa cỡ 102310^{23} phân tử. Về nguyên tắc, một mô tả cơ học đầy đủ đòi hỏi biết vị trí và vận tốc của từng phân tử. Tuy vậy, nhiệt động lực học giả thiết rằng ở cân bằng, thông tin vi mô này có thể được thay bằng một số rất nhỏ đại lượng vĩ mô, gọi là biến trạng thái vì chúng đặc trưng cho trạng thái vĩ mô.

Những ví dụ quen thuộc nhất là thể tích VV, áp suất PP, nhiệt độ TT và số hạt NN. Ta sẽ thấy nguyên lý thứ nhất đưa vào một đại lượng mới, nội năng UU, còn nguyên lý thứ hai đưa vào entropy SS. Tạm thời, ta thừa nhận hai đại lượng này tồn tại và đặc trưng cho trạng thái vĩ mô của hệ.

Tính chất đáng chú ý của tiên đề này đã được nhấn mạnh trong phần mở đầu chung. Nó thường không được nói rõ khi phát biểu hai nguyên lý, nhưng hiển nhiên là thiết yếu và đi trước chúng về mặt lôgic. Nhiệt độ và áp suất không phải tọa độ vi mô của các hạt; chúng là những đại lượng nổi hiện chỉ có ý nghĩa ở thang vĩ mô.

4.2. Biến quảng tính và biến cường tính

Các biến trạng thái được chia thành hai loại lớn.

Định nghĩa 4 (Đại lượng quảng tính và cường tính)
Một đại lượng là quảng tính nếu tỉ lệ với kích thước của hệ. Về toán học, khi nhân bản một hệ đồng nhất với hệ số thực λ>0\lambda>0, một đại lượng quảng tính XX biến đổi theo XλX.X\longrightarrow \lambda X.

Một đại lượng là cường tính nếu không đổi trong cùng phép nhân bản.

Thể tích VV, khối lượng mm và số hạt NN là những đại lượng quảng tính. Tạm thời ta cũng giả thiết nội năng UU và entropy SS là quảng tính.

Ngược lại, nhiệt độ TT, áp suất PP và thế hóa học μ\mu là các đại lượng cường tính. Thế hóa học sẽ được giới thiệu sau.

4.3. Đại số của tính quảng độ

Các đại lượng quảng tính và cường tính tuân theo một đại số đơn giản. Ta có thể hình thức hóa nó bằng các hàm thuần nhất.

Định nghĩa 5 (Bậc quảng tính)
Một đại lượng XX được gọi là thuần nhất bậc kk theo kích thước hệ nếu, khi thay đổi kích thước của một hệ đồng nhất bởi hệ số thực λ>0\lambda>0, nó biến đổi theo XλkX.X\longrightarrow \lambda^k X.

Do đó, đại lượng quảng tính thuần nhất bậc 11, còn đại lượng cường tính thuần nhất bậc 00.

Định nghĩa này cho phép kết hợp các đại lượng ngay lập tức. Nếu XX thuần nhất bậc kkYY bậc kk', thì XYXY thuần nhất bậc k+kk+k', còn X/YX/Y bậc kkk-k'.

Ví dụ, tỉ số V/NV/N thuần nhất bậc 00 nên là đại lượng cường tính: đó là thể tích trên mỗi hạt. Tương tự, mật độ hạt N/VN/V là cường tính.

Tính chất này giúp kiểm tra tính nhất quán của một phương trình nhiệt động. Ngoài phân tích thứ nguyên thông thường, phương trình còn phải nhất quán về tính quảng độ: hai vế phải biến đổi giống nhau khi kích thước hệ thay đổi. Chẳng hạn, cộng một biến quảng tính với một biến cường tính là vô nghĩa. Hãy tạo thói quen—thậm chí phản xạ—kiểm tra điều này, ít nhất đối với kết quả cuối cùng của một phép tính.

Như một bài tập, hãy kiểm tra phương trình khí lý tưởng PV=NkBTPV = N k_{\mathrm B}T thỏa cả hai điều kiện. Ở đây NN là số hạt. Quan hệ cũng có thể viết theo số mol nn, liên hệ với NN bởi N=NAnN=\mathcal N_A n, trong đó NA\mathcal N_A là hằng số Avogadro. Vì R=NAkBR=\mathcal N_A k_{\mathrm B}, ta thu được dạng quen thuộc PV=nRTPV=nRT.

Nhận xét 3 (Về tính quảng độ)
Không hề hiển nhiên tiên nghiệm rằng các đại lượng nhiệt động nói trên phải là quảng tính hoặc cường tính. Ngoài một số đại lượng hình học như thể tích, không có gì lập tức buộc nội năng hay entropy phải tăng gấp đôi khi kích thước hệ tăng gấp đôi, hoặc nhiệt độ và áp suất phải không đổi. Vì vậy, ở đây và trong toàn bộ giáo trình, ta đưa thêm giả thiết rằng các hệ được xét có tính chất co giãn này và các biến của chúng có thể được phân loại thành đại lượng quảng tính hoặc cường tính.

Giả thiết này có giới hạn. Đặc biệt, nó liên quan đến bản chất tương tác giữa các cấu tử của hệ; cấu trúc quảng tính thông thường có thể không còn đúng khi có tương tác tầm xa, nhất là hấp dẫn.

Ta sẽ trở lại những vấn đề này trong phần nâng cao của sách. Khi đó ta phân biệt hai khái niệm có liên quan nhưng khác nhau: tính quảng độ, liên quan đến việc thay đổi tỉ lệ của một hệ, và tính cộng được, liên quan đến việc ghép nhiều phân hệ. Sau đó ta sẽ phát triển chi tiết hơn nhiệt động lực học của các hệ tự hấp dẫn.

5. Không gian các trạng thái cân bằng

Ta hãy diễn đạt đơn giản bằng toán học điều vừa được giả thiết. Ký hiệu E\mathcal E là tập hợp các trạng thái cân bằng mà hệ đang xét có thể đạt tới. Một trạng thái có thể được mô tả bởi một số hữu hạn biến độc lập

x1,...,xd,x^1,...,x^d,

có giá trị xác định hoàn toàn trạng thái. Các xix^i có thể biểu diễn nhiệt độ, áp suất, thể tích, v.v. Những biến trạng thái này là các tọa độ trên không gian E\mathcal E.

Ta đã yêu cầu các biến này độc lập. Thật vậy, các biến trạng thái khác nhau của một hệ thường liên hệ với nhau bởi những phương trình trạng thái. Phương trình khí lý tưởng là một ví dụ. Ta sẽ làm rõ điểm này trong mục tiếp theo.

Ta còn giả thiết các đại lượng nhiệt động phụ thuộc đủ trơn vào các tọa độ để có thể dùng phép tính vi phân. Theo ngôn ngữ toán học, mô hình thu được của E\mathcal E là một đa tạp khả vi hữu hạn chiều.

Cách phát biểu này có thể có vẻ trừu tượng, nhưng nó chỉ làm rõ một giả thiết mà nhiều sách dùng ngầm khi viết các đại lượng như dTdT, dVdV hoặc dPdP mà không nói thêm về cấu trúc toán học khiến các ký hiệu ấy có thể dùng được.

Cấu trúc hình học này chủ yếu giúp ta phát biểu chính xác sự phụ thuộc giữa các biến nhiệt động và khái niệm hàm trạng thái. Nó cũng giải thích vì sao công và nhiệt trao đổi giữa trạng thái đầu và cuối phụ thuộc vào đường đi, trong khi độ biến thiên nội năng và entropy thì không (xem các mục sau).

Nhận xét 4 (Số hạt)
Số hạt NN dĩ nhiên là một số nguyên. Tuy nhiên, trong một hệ vĩ mô nó lớn đến mức những thay đổi của nó thường có thể được xem là liên tục, cho phép dùng ký hiệu dNdN.

Xấp xỉ này không còn đúng khi số hạt trở nên nhỏ. Khi đó phải tính đến tính rời rạc của NN và các dao động có thể không còn bỏ qua được. Ta không cần xét vấn đề này trong phần đầu của sách, nơi luôn ngầm giả thiết số hạt đủ lớn.

6. Phương trình trạng thái

Ta vừa mô hình hóa tập E\mathcal E các trạng thái cân bằng như một đa tạp hữu hạn chiều. Bây giờ phải xác định điều gì ấn định số chiều của nó. Có thể dùng nhiều biến trạng thái để mô tả một hệ, nhưng nhìn chung chúng không hoàn toàn độc lập: có những quan hệ nối chúng.

Xét một khí lý tưởng. Trong bài trước, ta thấy các biến cân bằng của nó thỏa

PV=nRT.PV=nRT.

Với lượng chất nn cố định, biết VVTT là đủ để xác định PP, vì P=nRT/VP=nRT/V. Ba đại lượng PP, VV, TT đều là biến trạng thái nhưng chỉ hai trong số chúng có thể được chọn độc lập.

Định nghĩa 6 (Phương trình trạng thái)
Một phương trình trạng thái là một quan hệ giữa nhiều biến trạng thái mà các trạng thái cân bằng của hệ phải thỏa mãn.

Nếu hệ được mô tả bằng qq biến trạng thái x1,...,xqx^1,...,x^q, quan hệ này có thể viết

F(x1,...,xq)=0.F(x^1,...,x^q)=0.

Phương trình khí lý tưởng do đó tương ứng với

F(P,V,T,n)=PVnRT=0.F(P,V,T,n)=PV-nRT=0.

Một phương trình trạng thái làm giảm số biến có thể chọn tự do. Chẳng hạn, với một hệ khí lý tưởng kín, số mol nn cố định và phương trình PV=nRTPV=nRT xác định một mặt trong không gian tọa độ trừu tượng (P,V,T)(P,V,T). Vì vậy, không gian vật lý các trạng thái cân bằng của khí lý tưởng trong trường hợp này có số chiều 22, không phải 33.

Ta có thể chọn (V,T)(V,T) làm tọa độ trên không gian này, nhưng những lựa chọn khác như (P,T)(P,T) hoặc (P,V)(P,V) cũng được. Không lựa chọn nào vật lý hơn lựa chọn nào: chúng chỉ là các hệ tọa độ khác nhau trên cùng một không gian trạng thái cân bằng.

Tổng quát hơn, nếu bắt đầu với qq biến trạng thái liên hệ bởi rr quan hệ độc lập thì chỉ có d=qrd=q-r biến được chọn tự do. Số dd này chính là số chiều của đa tạp E\mathcal E, tức số bậc tự do nhiệt động độc lập của hệ. Sau này ta sẽ thấy cách đếm có hệ thống.

Đối với các hệ phức tạp hơn, có thể cần nhiều phương trình trạng thái để đặc trưng hoàn toàn mọi trạng thái tiếp cận được.

7. Hàm trạng thái

Sau khi định nghĩa không gian trạng thái, ta có thể đưa vào một khái niệm sẽ được dùng liên tục.

Định nghĩa 7 (Hàm trạng thái)
Một hàm trạng thái là đại lượng vật lý có giá trị chỉ phụ thuộc vào trạng thái cân bằng của hệ.

Về toán học, đó là một hàm xác định trên không gian trạng thái:

f:ER.f:\mathcal E\longrightarrow \mathbb R.

Nếu chọn các tọa độ độc lập x1,...,xdx^1,...,x^d trên E\mathcal E, ta có thể viết f=f(x1,...,xd)f=f(x^1,...,x^d).

Nội năng UU và entropy SS sẽ là hai hàm trạng thái quan trọng nhất trong giáo trình này. Với một số hệ, biểu thức của chúng được biết tường minh. Chẳng hạn, đối với khí lý tưởng đơn nguyên tử,

U(n,T,V)=32nRT.U(n,T,V)=\frac32 nRT.

Quan hệ này là một tính chất bổ sung của khí lý tưởng; nó không suy ra chỉ từ phương trình trạng thái PV=nRTPV=nRT. Lưu ý rằng VV không xuất hiện ở vế phải: ở nhiệt độ cố định, nội năng của khí lý tưởng không phụ thuộc thể tích.

Vi phân của một hàm trạng thái được viết

df=i=1dfxidxi.df= \sum_{i=1}^{d} \frac{\partial f}{\partial x^i}\,dx^i.

Giữa hai trạng thái cân bằng AABB, độ biến thiên của nó là

Δf=f(B)f(A)=ABdf.\Delta f = f(B)-f(A)= \int_A^B df.

Nếu γ\gamma là một đường trong E\mathcal E nối AA với BB thì

γdf=f(B)f(A).\int_\gamma df=f(B)-f(A).

Do đó, mỗi khi quá trình được xét có thể biểu diễn bởi một đường như vậy (xem mục sau), tích phân này không phụ thuộc vào đường γ\gamma đã chọn. Đại lượng dfdf được gọi là một vi phân toàn phần.

Tính chất này phân biệt nội năng với nhiệt và công. Nhiệt và công không phải là những đại lượng chứa trong hệ; chúng là những sự truyền năng lượng xảy ra trong một quá trình.

Chẳng hạn, xét khí lý tưởng chuyển từ trạng thái đầu A=(PA,VA,TA)A=(P_A,V_A,T_A) sang trạng thái cuối B=(PB,VB,TB)B=(P_B,V_B,T_B).

Có nhiều quá trình nối cùng hai trạng thái này: khí có thể được nén trước rồi nung nóng, nung nóng trước rồi nén, hoặc thay đổi đồng thời nhiệt độ và thể tích theo một đường khác.

Trong mọi trường hợp, biến thiên của một hàm trạng thái như nội năng là như nhau vì chỉ phụ thuộc vào AABB. Trái lại, lượng công khí nhận và lượng nhiệt trao đổi có thể khác nhau giữa các quá trình.

Vì lý do này, ta dùng ký hiệu

δQ,δW,\delta Q,\qquad \delta W,

để phân biệt chúng với các vi phân toàn phần như

dU,dS.dU,\qquad dS.

Ký hiệu δ\delta nhấn mạnh rằng δQ\delta QδW\delta W nói chung không phải vi phân của các hàm trạng thái. Ta sẽ định nghĩa chính xác các đại lượng này và tính các ví dụ trong Bài 4.

Cần ghi nhớ
Một hàm trạng thái chỉ phụ thuộc vào trạng thái của hệ, không phụ thuộc cách đạt tới trạng thái đó.

Do đó, nếu ff là một hàm trạng thái,

Δf=f(B)f(A)\Delta f=f(B)-f(A)

không phụ thuộc vào đường đi giữa AABB.

8. Các quá trình nhiệt động

Ta vừa thấy một số đại lượng như nhiệt và công phụ thuộc vào cách hệ đi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Vì vậy, cần xác định thế nào là một quá trình nhiệt động.

Một quá trình nhiệt động là bất kỳ quá trình nào trong đó hệ đi từ một trạng thái cân bằng ban đầu tới một trạng thái cân bằng cuối cùng.

Giả sử hệ bắt đầu ở trạng thái cân bằng AA và sau một diễn biến đạt trạng thái cân bằng mới BB. Trong một quá trình thực, hệ không nhất thiết ở cân bằng. Chẳng hạn, nhiệt độ hoặc áp suất có thể thay đổi theo vị trí và khi đó không thể được mô tả bằng một giá trị vĩ mô duy nhất.

Vì thế, biểu diễn toàn bộ diễn biến bằng một đường trong không gian E\mathcal E các trạng thái cân bằng là không đúng. Chỉ trạng thái đầu và cuối nhất thiết thuộc không gian này.

Tuy vậy, ta đưa vào một lớp quá trình lý tưởng hóa trong đó hệ luôn gần cân bằng tùy ý trong suốt diễn biến. Chúng giữ vai trò trung tâm trong nhiệt động lực học.

8.1. Quá trình tựa tĩnh

Định nghĩa 8 (Quá trình tựa tĩnh)
Một quá trình là tựa tĩnh nếu được thực hiện sao cho ở mọi giai đoạn, hệ luôn gần tùy ý một trạng thái cân bằng.

Do đó, một quá trình tựa tĩnh có thể được biểu diễn bằng một đường liên tục trong không gian trạng thái cân bằng E\mathcal E.

Hình 2 tóm tắt sự phân biệt giữa hàm trạng thái, nhiệt và công, cũng như giữa quá trình thực và quá trình tựa tĩnh.

Không gian trạng thái cân bằng, các hàm trạng thái và những quá trình nhiệt động.
Hình 2. Không gian trạng thái cân bằng, các hàm trạng thái và những quá trình nhiệt động.

Cụ thể, điều này có nghĩa là các ràng buộc bên ngoài được thay đổi đủ chậm so với các thời gian hồi phục đặc trưng của hệ.

Dọc theo toàn bộ đường, hệ có thể được xem là đi qua một dãy trạng thái gần nhau vô hạn

X=(x1,...,xd)X=(x^1,...,x^d)

và ta có thể viết

XX+dX,X\longrightarrow X+dX,

chẳng hạn

TT+dT,VV+dV.T\longrightarrow T+dT,\qquad V\longrightarrow V+dV.

Vì vậy các hàm trạng thái có thể được đánh giá dọc theo toàn bộ đường. Lưu ý rằng một quá trình tựa tĩnh không nhất thiết thuận nghịch; tính thuận nghịch sẽ được định nghĩa cùng với nguyên lý thứ hai (xem Bài 5).

8.2. Các quá trình đặc biệt

Một số quá trình xuất hiện thường xuyên trong nhiệt động lực học nên có tên riêng.

  • Quá trình ở nhiệt độ không đổi, T=csteT=\text{cste}, là đẳng nhiệt. Chú ý: một hệ tiếp xúc với nguồn nhiệt chỉ trải qua quá trình đẳng nhiệt nếu diễn biến đủ chậm để nhiệt độ của nó luôn đồng đều và bằng nhiệt độ nguồn1.
  • Quá trình ở áp suất không đổi, P=csteP=\text{cste}, là đẳng áp. Chỉ có áp suất ngoài không đổi chưa bảo đảm áp suất của hệ không đổi.
  • Quá trình ở thể tích không đổi, V=csteV=\text{cste}, là đẳng tích; đây là trường hợp của một hệ chứa trong bình cứng.
  • Quá trình không trao đổi nhiệt, Q=0Q=0, là đoạn nhiệt; về lý tưởng có thể thực hiện bằng các vách đoạn nhiệt.
  • Quá trình có entropy không đổi, ΔS=0\Delta S=0, là đẳng entropy. Một quá trình đoạn nhiệt không nhất thiết đẳng entropy.
  • Quá trình có nội năng không đổi, ΔU=0\Delta U=0, là đẳng năng.
  • Quá trình có trạng thái cuối giống trạng thái đầu là tuần hoàn.
    Note 1 : Quá trình diễn ra trong tiếp xúc với một nguồn nhiệt duy nhất được gọi là đơn nhiệt. Nếu quá trình quá nhanh, riêng sự tiếp xúc không bảo đảm hệ có nhiệt độ của nguồn. Nếu cân bằng nhiệt được bảo đảm, hoặc vì lý do khác Tsys=csteT_{\rm sys}=\text{cste}, quá trình là đẳng nhiệt.

Loại cuối cùng sẽ đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu các động cơ nhiệt.

9. Tài liệu tham khảo

Để xem một trình bày cổ điển và có hệ thống về nhiệt động lực học, đặc biệt tham khảo Diu và cộng sự [1] cùng Callen [2].

  1. B. Diu, C. Guthmann, D. Lederer and B. Roulet, Thermodynamique, Hermann (2007)
  2. H. B. Callen, Thermodynamics and an Introduction to Thermostatistics, 2nd ed., Wiley (1985)